Phần 1 cuốn giáo trình "Lý thuyết thống kê" cung cấp cho sinh viên các kiến thức: Những vấn đề chung về thống kê học, điều tra thống kê, tổng hợp thống kê, nghiên cứu thống kê các mức độ của hiện tượng kinh tế - xã hội, điều tra chọn mẫu. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.




Bạn đang xem: Lý thuyết thống kê

*

"NG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HIMGT.0000000226 KHOATHỐNG KÊ Dông chủ biên: PGS. TS. TRAN NGỌC PHÁC - TS. TRAN THỊ KIM THUSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ QUỐC DÁN KHOA THỐNG KÊ PGS. TRẰN NGỌC PHÁC - TS. NGUYÊN THỊ KIM THU G I Á O T R Ì N H L Ý T H U Y Ế T T H Ố N G K Ê TRƯỜNGMỈRTẾ&QT.KD n ơ m i ư O N NHÀ XUẤT BẢN THÔNG KẺSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn LÒI NÓI ĐẨU Lý thuyết thống kê là môn học cơ sở của sinh viên tất cả các chuyên ngành khối kinh tế. Môn học đã được xuất bản thành bài giảng và giáo trình nhiều lần. Lần này "Giáo trình Lý thuyết Thống kê" được biên soạn trên cơ sở tiếp thu những nội dung và kinh nghiệm giảng dạy môn Lý thuyết Thống kê trong nhiều năm qua, những ý kiến của Hội đong thẩm định giáo trình của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Hội đồng khoa học Khoa Thốn" kẽ. Giáo trình này nhằm phục vụ giảng dạy và học tập của giáo viên uà sinh viên chuyên ngành Thống kẽ - Khoa Thống kê - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đồng thời là tài liệu học tập và tham khảo cho sinh viên của tát cả các chuyên ngành khác và là tài liệu tham khảo cho tất cả những người quan tâm đến lĩnh vực thống kê. Giáo trình này do PGS. TS. Trần Ngọc Phác và TS. Trần Thị Kim Thu làm đồng chủ biên. Tham gia biên soạn gồm có: - PGS. TS. Trần Ngọc Phác biên soạn chương V VII vin X - TS. Trần Thị Kim Thu biên soạn chương HI Tự VI - TS. Phạm Đại Đồng biên soạn chương ì li - Thạc sĩ Nguyễn Hữu Chi biên soạn chương ĨX - GS, TS. Phạm Ngọc Kiểm và Thạc sĩ Trần Thỉ Bích biên soạn chương XISố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn Mặc dầu đã có rất nhiều cố gắng song không thê tránh khỏi những thiếu sót uà hạn chế nhất định, tập thể tác giả rát mong nhận được những ý kiên đóng góp cùa bạn đọc đê lãn xuảt bản sau sẽ hoàn thiện hơn. TẬP THỂ TÁC GIẢ 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn Chương ì NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VỀ" T H Ố N G KÊ H Ọ C ì. ĐỐI TƯỢNG CỦA THỐNG KÈ HỌC 1.1. Sơ lược lịch sử phát triển và vai trò của thống kê trong đời sông xã hội Thống kê học ra đời, phát triển từ nhu cầu thực tiễn của xã hội và là một trong những môn khoa học xã hội có lịch sử lâu dài nhất. Đó là một quá trình phát triển không ngừng từ đòn giản đến phức tạp, được đúc rút dần thành lý luận khoa học và ngày nay đã trở thành một môn khoa học độc lập. Ngay từ thời cổ đại, con người đã biết chú ý tới việc đăng ký, ghi chép và tính toán số"người trong bộ tộc, số súc vật, sô người có thê huy động phục vụ các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, số người được (.ham gia ăn chia phân phối của cải thu được... Mặc dù việc ghi chép còn rất giàn đơn với phạm vi hẹp, nhưng đó chính là nhũng cơ sở thực tiễn ban đầu của thống kê học. Trong xã hội phong kiến, hầu hết các quốc gia ở châu Á châu Âu đều có tổ chức việc đăng ký, kê khai về số dân. về ruộng đất, tài sản... với phạm vi rộng hơn, cọ tính chất thống kê rõ hơn. Tuy nhiên, các đăng ký này còn mang tính tự phát, thiếu khoa học. Thống kê đã có một bưâc phát triển quan trọng, nhưng van chưa thực sự hình thành một môn khoa hoe dóc lập.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn Sự ra đòi và phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tù bản chủ nghĩa đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu lý luận cũng như phương pháp thu thập, tính toán và phân tích về mặt lượng các hiện tượng kinh tế - xã hội. Năm 1660, nhà kinh tế học người Đức; H. Conhring (1606-1681) đã giảng về phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào các số liệu điều tra cụ thể. Năm 1682, VVilliam Petty (1623 - 1687), nhà kinh tế học người Anh đã xuất bản cuốn "Số học chính trị". Đáy là tác phẩm có tính phân tích thông kê đầu tiên, trong đó tác giả nghiên cứu các hiện tượng xã hội bằng cách tổng hợp và so sánh các con sô". Kark Mark đã gọi William Petty là người sáng lập ra món thống kê học"". Năm 1750, giáo sư người Đức G. Achemvall (1710 - 1772), lần đầu tiên dùng danh từ "Statistik" để chì phương pháp nghiên cứu nói trên và quan niệm đó là môn học so sánh các nước khác nhau về mọi mặt qua các số liệu thu thập được. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên trong thế kỷ thứ XVIII, đặc biệt là sự ra đời của lý thuyết xác suất và thống kê toán đã cóảnh hưởng lỏn đến sự phát triển của thống kê học. Kể từ đó, thống kẽ có sự phát triển rất mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện, gắn liền vối tên tuổi của nhiều nhà toán học - thống kê học nổi tiếng, như: M.v. Lomonoxop (Nga, 1711 - 1765); A. Quetelet (Bì, 1796 - 1874); Laplace (Pháp, 1749 - 1827); ì. Fisher; W.M. Pearsons, w. Far (Anh, 1807 - 1883)... Kê từ khi ra đời, thống kê ngày-càng đóng vai trò quan 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn trọng trong đòi sống xã hội. Thông qua việc phát hiện, phản ánh những quy luật về lượng của hiện tượng, các con số thông kê giúp cho việc kiêm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, kế hoạch và định hướng sự phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai. Do vai trò quan trọng của thông kê, nên V. ì. Lê - nin đã khẳng định rằng "thống kê kinh tế - xã hội là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất để nhận thức xã hội""". Ngày nay, thống kê được coi là một trong những còng cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xảy dựng kê hoạch phát triển kinh tê - xã hội ngắn hạn và dài hạn. Đồng thòi, các con số thông kê cũng là những cơ sở quan trọn? nhất để kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện các kẽ hoạch, chiến lược và các chính sách đó. Trên giác độ quản lý vi mô, thõng kê không những có vai trò đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tó chức, cá nhân trong xã hội, mà còn phải xây dựng, cung cấp các phương pháp phân tích đánh giá về mặt lượng các hoạt động kinh tế - xã hội cùa các tô chức, đơn vị. 1.2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thống kê cho thấy: Thông kẽ học là một môn khoa học xã hội. Tuy nhiên, khác với các môn khoa học xã hội khác, thống kêSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn học không trực tiếp nghiên cứu mặt chất cùa hiện tượng, mà nó chì phản ánh bản chất, tính quy luật của hiện tượng thông qua các con số, các biểu hiện về lượng của hiện tượng. Điều đó có nghĩa là thống kê học phải sử dụng các con số về quy mô, kết cấu, quan hệ tỷ lệ, quan hệ so sánh, trình độ phát triển, trình độ phổ biến... của hiện tượng để phàn ánh, biêu thị bản chất, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Như vậy các con số thống kê không phải chung chung, trừu tượng, mà bao giò cũng chứa đựng một nội dung kinh tế, chính trị, xã hội nhất • định, giúp ta nhận thức được bản chất và quy luật của hiện tượng nghiên cứu. Theo quan điểm của triết học. chất và lượng là hai mặt không thể tách rời của mọi sự vật, hiện tượng, giữa chúng luôn tồn tại mối liên hệ biện chứng vói nhau. Trong môi quan hệ đó, sự thay đổi về lượng quyết định sự biến đổi về chất. Quy luật lượng - chất của triết học đã chỉ rõ: Mỗi lượng cụ thể đều gắn vối một chất nhất định, khi lượng thay đổi và tích lũy đến một chừng mực nhất định thì chất thay đổi theo. Vì vậy, nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng sẽ giúp cho việc nhận thức bản chất của hiện tượng. Có thể đánh giá thành tích sản xuất của một doanh nghiệp qua các con số thống kê về tông sô sản phẩm làm ra, giá trị sản xuất đạt được, tỳ lẽ hoàn thành kê hoạch về sản xuất, giá thành đơn vị sàn phẩm, năng suất lao động và thu nhập của người công nhân... Tuy nhiên, để có thể phản ánh được bàn chất và quỵ luãt phát triển của hiện tượng, các con số thống kẽ phải được táp hợp, thu thập (.rên một số lớn các hiện tượng cá biệt. ThốngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn kê học coi tổng thể các hiện tượng cá biệt như một thể hoàn chỉnh và lấy đó làm đối tượng nghiên cứu. Mặt lượng của hiện tượng cá biệt thường chịu tác động của nhiều yêu tố, trong đó có cả những yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên. Mức độ và chiều hướng tác động của từng yếu tố này trên mỗi hiện tượng cá biệt rất khác nhau. Nếu chỉ thu thập số liệu trên một số ít hiện tượng thì khó có thể rút ra bản chất chung cua hiện tượng, mà nhiều khi người ta chỉ tìm thấy những yếu tố ngẫu nhiên, không bản chất. Ngược lại, khi nghiên cứu trên một số lân các hiện tượng cá biệt, các yếu tố ngẫu nhiên sẽ bù trừ, triệt tiêu nhau và khi đó, bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng mỏi được bộc lộ rõ. Chẳng hạn, nghiên cứu tình hình sinh đẻ trong một tổng thể dân cư, ta thây có nhiều cặp vợ chồng sinh toàn con trai, ngược lại cũng có nhiều gia dinh chỉ có con gái. Nếu nghiên cứu trên một số ít gia đình có thể thấy số bé trai được sinh ra nhiều hơn số bé gái hoặc ngược lại. Nhưng khi nghiên cứu trong cả tông thể dán cư vối một số lớn cặp vợ chồng, những trương hợp sinh toàn con trai sẽ bị bù trừ bởi những cặp sinh toàn con gái. Khi đó quy luật tự nhiên: số sinh trai và số sinh gái xấp xỉ bằng nhau theo tỷ lệ khoảng 103 • 104 bé trai trên 100 bé gái mới được bộc lộ rõ. Hiện tượng số lớn trong thống kê được hiểu là một tập hợp các hiện tượng cá biệt đủ bù trừ, triệt tiêu tác động của các yếu tố ngẫu nhiên. Giữa hiện tượng số lớn (tổng the) và các hiện tượng cá biệt (đơn vị tổng thể) luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng. Muốn nghiên cứu tổng thể, phải dựa trên cơ sở nghiên cứu ^từng đơn vị tổng thể. Mặt khác, trong qua trình phát triển không ngừng của xã hội, luôn nảy sinh ""~ - u i A f , M n ơ - "hững điển hình tiên tiên hoặc r ắ h i ê t m ớ l 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn lạc hậu. Sự nghiên cứu các hiện tượng cá biệt nàv sẽ giúp cho sự nhận thức bàn chất của hiện tượng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn. Vì vậy trong thống kê, nhất là thống kê kinh tế - xã hội, người ta thường kết hợp nghiên cứu hiện tượng số lớn với việc nghiên cứu hiện tượng cá biệt. Đôi tượng nghiên cứu của thống kê học bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. Trong điếu kiện lịch sử khác nhau, các đạc điểm về chất và biểu hiện về lượng của hiện tượng cũng khác nhau, nhất là vói các hiện tượng kinh tế - xã hội. Chẳng hạn, trình độ hiện đại hóa, một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động của người công nhân, lại rất khác nhau giữa các doanh nghiệp. Ngay trong cùng một đơn vị, cũng lại có thể khác nhau giữa các giai đoạn, các thời kỳ,... Thậm chí, giữa các bộ phận trong cùng một đơn vị, nhiều khi cũng tồn tại những khác biệt đáng kể. Vì vậy, các con số về năng suất lao động của người công nhân trong từng doanh nghiệp, từng thời ky khác nhau cũng có ý nghĩa khác nhau. Như vậy khi sử dụng các số liệu thống kê phải luôn gắn nó trong điều kiện thời gian, địa điểm cụ thể của hiện tượng mà số liệu phản ánh. Từ các phân tích trên, có thể rút ra kết luận: Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong sự liên hê mật thiết với mặt chất của các hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. li. CÁC KHÁI NIỆM THƯỜNG DÙNG TRONG THỐNG KÊ 2.1. Tông thê thông kê Tổng thể thống kê là một khái niệm quan trọng của thống ké học. Nó giúp ta xác định rõ phạm vi cùa hiện tượng 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn đang là đối tượng của một nghiên cứu thống kê cụ thê nào đó. Như vậy, tổng thể thống ké là hiện tượng số lớn, bao gồm những dơn vị, hoặc phần tủ cấu thành hiện tượng, cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng. Các đơn vị, phần tử tạo nên hiện tượng được gọi là các đơn vị tông thê. Như vậy. muốn xác định được một tổng thể thống ké, ta can phái xác định được tất cà các đơn vị tông thể của nó, Thực chất của việc xác định tông thể thống kê là việc xác định các đơn vị tống thể. Trong nhiều trường hợp, các đơn vị của một tông thể được biêu hiện một cách rõ ràng, dễ xác định. Ta gọi đó là tông thê bộc lộ. Vi dụ như số nhân khẩu của một địa phương, sô xe máy được cấp đăng ký trong một tháng... Ngược lại, một tông thê mà các đơn vị của nó không được nhận biết một cách trực tiếp, ranh giới của tông thê không rõ ràng được gọi là tỏng thê tiềm ân. Loại này thường gặp nhiều trong lĩnh vực xã hội, vi "dụ: Tông thể những người say mê nhạc cô điên tông thể người mê tín dị đoan... Việc phân chia này có liên quan trực tiẽp đôn việc xác định tông thể. Thông thường, việc xác định các đơn vị của một tông thể bộc lộ không gặp nhiêu khó khăn do chúng được định nghĩa rõ ràng, có ranh giới xác định vói các đơn vị khác. Trong khi đó, việc tìm được đầy đủ chính xác các đơn vị của một tông thể tiềm ẩn lại gặp nhiều khó khăn hơn do không có sự phân biệt rạch ròi, chuẩn xác giữa chúng voi các đơn vị không thuộc tông thể. Vì vậy việc nhầm lẫn, bò xót cấc đơn vị trong tống thể dễ xảy ra. Nếu xét theo mục đích nghiên cứu, ta có thể phản biệt hai loại tống thể. Tông thê đồng chất bao gồm những đơn vi có cùng chung những đặc điểm chù yếu có liên quan đến mục 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn đích nghiên cứu. Tổng thể không đồng chất bao gồm những đơn vị khác nhau về loại hình, khác nhau về những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu. Sự phân chia này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tính đại diện của các thông số thống kê tinh được. Các thông số này chỉ có ý nghĩa, đảm bảo tính đại diện khi dược tính ra từ một tông thê đồng chất. Nếu chúng được tính ra từ một tông thê không đồng chất thì ý nghĩa, tính đại diện cùa chúng cho tông thê giảm đi rất nhiều, thậm chí không sử dụng được. Ví dụ, khi nghiên cứu về thu nhập, ta thường sử dụng thông số thống kê là "thu nhập trung bình". Tuy nhiên thu nhập trung bình chỉ có ý nghĩa và cũng chì đảm bảo tính đại diện khi dược tính ra từ một tông thể chỉ bao gồm những người có cùng chung những điều kiện làm việc, tính chất công việc, như những người nóng dân, những thương nhân... Nếu ta trộn cả nông dân và thương nhân lại với nhau, thì ý ní*hĩa tính đại diện của "thu nhập trung bình" đã giảm đi rất nhiều. Ngoài ra, người ta còn phân biệt tổng thể chung bao gồm tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu; tổng thể bô phân chỉ chứa đựng một phần cùa tổng thổ chung Trong thực tế thống kê, nhiều khi ranh giới của tổnc thể còn có chỗ mập mờ, khó xác định chính xác, người ta phải quv ưâc một số loại đơn vi nào đó được đưa vào tông thể mót sô khác không được tính là đơn vị tông thể. 2.2. Tiêu thức thống kê Các đơn vị tổng thể thường có nhiều đặc điểm khác nhau. Ví dụ, mỗi người dân trong tổng thể dân cư có các đác điểm như độ tuổi, giới tính, trình độ vãn hóa, nghề nghiép.. 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn Trong nghiên cứu thống kê, người ta chỉ chọn ra một số đặc điểm để nghiên cứu. Các đặc điểm này được gọi là tiêu thức thống kê. Như vậy, tiêu thức thống kê là một khái niệm chi đặc điểm của các đơn ui tổng thể được chọn ra đê nghiên cứu. Tiêu thức thống kê đươc chia thành hai loại, tùy theo cách biêu hiện của nó. • Tiêu thức thuộc túm. ba loại tiêu mức không được biểu hiện trực tiếp bằng con số, mà các biểu hiện của nó được dùng đê phản ánh loại hoặc tính chất của các đơn vị tông thê. Ví dụ: Giới tính, dàn tộc, thành phần kinh tê... Giới tính có hai biêu hiện: nam và nữ. Các biếu hiện nà}" được dùng đê chỉ rõ người này là nam giới, còn người kia là nữ giới. • Tiêu thức số lượng: Là loại tiêu thức có biêu hiện trực tiếp bàng con số. Đây là những con sô phản ánh đặc trúng có thể cân, đong, đo, đếm được của từng đơn vị tông thể. Ví dụ: Chiều dài của cây cầu, số nhân khau trong gia đình, tiền lương tháng của mỗi người lao động... Mỗi con số này được gọi là một lượng biến. Các lượng biến chính là cơ sở để thực hiện các phép tính thống kê, như: Cộng, trừ, nhân, chia, trung bình, tỷ lệ... Một tiêu thức chỉ có hai biêu hiện không trùng nhau trôn một đơn vị tổng thể (ví dụ: Tiêu thức giới tính chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau là nam và nữ) được gọi là tiêu thức thay phiên. Loại tiêu thức này có đặc điểm quan trọng là nếu một đơn vị tổng thê nào đó đã nhận biểu hiện này thì không nhận biểu hiện kia. Nói cách khác, xác suất để một đơn vị tổng thể bất kỳ nhặn biểu hiện này bằng Ì, thì xác suất để nó nhận biểu hiện kia sẽ bằng 0 (xác suất để một người bất kỳ 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn là nam bàng Ì, thì xác suất để người đó là nữ sẽ bàng 0). Vì vậy, đây là loại tiêu thức có nhiều ứng dụng trong thực tẽ. Tiêu thức giúp xác định rõ từng đơn vị tổng thê cũng như tông thể thống kê, nhờ đó ta có thể phàn biệt đơn vị này với đơn vị khác, tông thể nàv vối tổng thể khác. 2.3. Chỉ tiêu thông kê Đê biểu hiện rõ bàn chất, quy luật của hiện tượng, thống kê phải tông hợp các đặc điểm về lượng thành những con số của một sô lớn hiện tượng trong điều kiện thời gian, không gian cụ thổ. Ta gọi đó là chỉ tiêu thống kẽ. Như vậy, chỉ tiêu thống kè là những con số chỉ mặt lượng gắn với mặt chất của hiện tượng số lớn trong điểu kiện thời gian, không gian cụ thể. Khoản 3, điều 3 Luật Thống kẽ (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 3 thõng qua ngày 17 tháng 6 năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày OI tháng OI năm 2004) đã quy định cụ thể hơn: "Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quỵ mỏ, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tương kinh tế- xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thê""". Ví dụ: Tổng sàn phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam nám 2004 theo giá thực tế là 715.307 tỷ đồng" ". 2 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn Chỉ tiêu thống kê thường mang tính tổng hợp biêu hiện mặt lượng của nhiều đơn vị, hiện tượng cá biệt. Do đó, chì tiêu phản ánh những mối quan hệ chung của tất cả các đơn vị tông thê. Chì tiêu thống kê có khái niệm và mức độ. Khái niệm có tên gọi, điều kiện thời gian và không gian. Múc độ phản ánh quy mõ hoặc cường độ của hiện tượng với các loại thang đo khác nhau. IU. THANG ĐO TRONG THỐNG KẺ Tùy theo tính chất của dữ liệu thông kê thu được, ta có the sử dụng các loại thang đo khác nhau. Có bốn loại thang đo chủ yếu sau: 3.1. Thang đo định danh Thang đo định danh là loại thang đo sử dụng cho các tiêu thức thuộc tính, mà các biểu hiện của dữ liệu không có sự hơn kém, khác biệt về thứ bậc, không theo một trật tự xác định nào như: Giới tính, khu vực địa lý, nghề nghiệp, tôn giáo... Trong trường họp này, các biểu hiện cùng loại của tiêu thức được đánh số giống nhau. Ví dụ: Tiêu thức giới tính có hai loại nam và nữ và không có trật tự nào giữa hai loại này; vì vậy Nam có thê được đánh số là Ì và Nữ là 2 hoặc ngược lại. Đặc điểm: Các con số không có quan hộ hơn kém, không thực hiện dược các phép tính thống kẽ. Chỉ đếm được tần số xuất hiện của từng biểu hiện. 3.2. Thang do thứ bậc Loại thang đo này cũng được sử dụng cho các tiêu thức thuộc tính, mà các biểu hiện của dữ liệu có sự hơn kém, khác 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn biệt về thứ bậc. Vì vậy, ta có thế nói đây là thang đo định danh nhưng giữa các biểu hiện của tiêu thức có quan hệ hơn kém. Ví dụ: trình độ thành thạo của người công nhân được chia theo các bậc thợ Ì, 2, 3, 4,...; chất lượng sản phẩm được chia thành sản phẩm loại ì, loại li, loại III...; đánh giá chất lượng đào tạo trong nhà trường, ta chia học sinh thành các loại xuất sắc, giỏi, khá, trung bình, yếu, kém... Sau đó lần lượt gán các số Ì, 2, 3... cho mỗi biểu hiện. Những số này thê hiện trật tự hơn kém giữa các biểu hiện của tiêu thức. Thang đo này có ưu điểm là cho thấy sự khác biệt, sự hơn kém giữa các biêu hiện của tiêu thức, nhưng sự hơn kém đó không nhất thiết phải bằng nhau và không biết cụ thể là bằng bao nhiêu. Do chưa biết được khoảng cách cụ thể giữa các số, nên không thực hiện được các phép tính thống kê đối vđi chúng, mà chỉ dựa vào đó để nói lên dặc trưng chung của tông thê một cách tương đối căn cứ trên sự giải thích "lớn hơn" hay "nhỏ hơn" mà thôi. 3.3. Thang đo khoảng Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có các khoảng cách đêu nhau nhưng không có điểm gốc là 0. Ví dụ như thang đo nhiệt độ không khí,... Nếu ở thang đo thứ bậc, ta chỉ có thể so sánh sự hơn kém về chất giữa các đơn vị theo một tiêu thức nào đó, thì thang đo khoảng, nhờ có tiêu chuẩn đo được quy định chính xác ta có thể đánh giá được mức độ hơn kém cụ thể về mặt lượng. Do vậy, thang đo này luôn có đơn vị đo và được sử dụng cho các tiêu thức số lượng. Từ đó, ta có thể thực hiện các phép tính cộng, trừ, tính được các đặc trưng thống kê như trung bình, phương sai, tỳ lệ. 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn Hạn chế: Thang đo này không có điểm 0 trên thực tế, mà chỉ có những điểm xác định các khoảng theo trật tự nào đó, nếu có điểm 0 thì đó chỉ là quy ưốc. Ví dụ nhiệt độ không khí đo theo độ c. Điểm 0°c chỉ là điểm quy ưốc tại đó nước đóng băng. Do chưa có điểm gốc là số 0, nên không so sánh được tỷ lệ giữa các trị sô đo. 3.4. Thang đo tỷ lệ Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng vối giá trị 0 tuyệt đối (một trị số thật) được coi như là điểm xuất phát của độ dài đo lường trên thang. Do có điểm gốc 0, nên có thể giúp so sánh được tỳ lệ giữa các trị số đo. Ví dụ: Các đơn vị đo lường vật lý thông thường (kg, mét...), thu nhập, số con... Đây là loại thang đo định lượng chặt chẽ nhất (có đơn vị đo và giá trị 0 tuyệt đối). Với thang đo này, ta có thể thực hiện được tất cả các công cụ toán thống kê để tính toán và phân tích số liệu. Theo tuần tự, thang đo sau có chất lượng đo lường cao hơn thang đo trước, đồng thời việc xây. dựng thang đo cũng phức tạp hơn. Hai loại đầu được sử dụng để.đo lường các dấu hiệu định tính và được gọi là thang định tính."Hai loại sau là thang định lượng. Song không phải lúc nào sử dụng thang đo có chất lượng cao hơn là tốt hơn, mà phải tuy thuộc vào đặc điểm của hiện tượng và tiêu thức nghiên cứu đê quyết định sử dụng thang đo cho thích hợp. IV. HOẠT ĐỘNG THỐNG KÊ VÀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ Mục đích cuối cùng của một cuộc nghiên cứu thống kê là thu thập những thông tin định lượng vế hiện tượng nghiên IHXTU TÍ f. ÍYP VTĨISố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể, trên cơ sở đó phát hiện bàn chất, quy luật phát triển của hiện tượng, giải quyết được một vấn đề lý thuyết hoặc một yêu cầu nhất định của thực tiễn. Tất cả các công việc đó đều được gọi là hoạt động thống kê. Hoạt động thống kê thường được chia thành hai loại: hoạt động thống kê nhà nưổc và hoạt động thống kê của các tổ chức, cá nhân ngoài hệ thống tổ chức nhà nước. ở Việt Nam, "hoạt động thống kê nhà nước là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin phàn ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kỉnh tế- xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể do cơ quan nhà nước tiến hành""" và được điều chỉnh bởi Luật Thống kê. Hoạt động thống kê nhả nước Việt Nam phải tuân theo 7 nguyên tắc cơ bản sau:" 21 (1) Đảm bảo tính trung thực, khách quan, chính xác đầy đủ và kịp thời. (2) Đảm bảo tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vu thống kệ. (3) Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính bảng phân loại, đơn vị đo lường, niên độ thống ke và tinh so sánh quốc tế.

Xem thêm: How To Fix The Instruction At Referenced Memory Error Windows 10

(4) Không trùng lặp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra thống kê, các chế độ báo cáo thống kê. (5) Công khai về phương pháp thống kê, công bố thông tin thống kê.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn