Nội dung bài Soạn bài Đại cáo bình Ngô (tiếp theo) sgk Ngữ văn 10 tập 2 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, phân tích, cảm nhận, thuyết minh, nghị luận,… đầy đủ các bài văn lớp 10 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn và ôn thi THPT Quốc gia.

Bạn đang xem: Đại cáo bình ngô tiếp theo

ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ

(Bình Ngô đại cáo)

Nguyễn Trãi

Phần hai: TÁC PHẨM

TIỂU DẪN

Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông buộc phải giảng hòa, chấp nhận rút quân về nước, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết Đại cáo bình Ngô.

Đại cáo bình Ngô có ý nghĩa trọng đại của một bản tuyên ngôn độc lập được công bố vào tháng Chạp, năm Đinh Mùi (tức đầu năm 1528). Bài đại cáo này mang đặc trưng cơ bản của thể cáo nói chung, đồng thời có những sáng tạo riêng của Nguyễn Trãi.

Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết. Trong thể cáo, có loại văn cáo thường ngày như chiếu sách của vua truyền xuống về một vấn đề nào đó, có lại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại, có tính chất quốc gia. Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau. Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc.

Đại cáo bình Ngô do Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo là bài cáo có ý nghĩa trọng đại của quốc gia, được công bố rộng khắp về việc dẹp yên giặc Ngô (ở đây chữ Ngô chỉ giặc Minh xâm lược). Bài đại cáo này được viết theo lối văn biền ngẫu, có vận dụng thể tứ lục (từng cặp câu, mỗi câu mười chữ ngắt theo nhịp 4/6), hình tượng nghệ thuật sinh động, gợi cảm.

Bố cục bài Đại cáo bình Ngô gồm bốn phần (NBS đã đánh số để tiện theo dõi):

– Nêu vấn đề chính nghĩa.

– Vạch rõ tội ác kẻ thù.

– Kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa.

– Tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa.

VĂN BẢN

1. Từng nghe:Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,Quân điếu phạt (1) trước lo trừ bạo.Như nước Đại Việt ta từ trước,Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.Núi sông bờ cõi đã chia,Phong tục Bắc Nam cũng khác.Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,Song hào kiệt đời nào cũng có.Vậy nên:Lưu Cung tham công nên thất bại,Tiệu Tiết (2) thích lớn phải tiêu vong.Cửa Hàm Tử (3) bắt sống Toa Đô,Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã (4).Việc xưa xem xét,Chứng cứ còn ghi.

2. Vừa rồi:Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,Để trong nước lòng dân oán hận.Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa,Bọn gian tà bán nước cầu vinh.Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,Vùi con đỏ (5) xuống dưới hầm tai vạ.Dói trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,Gây binh kết oán trải hai mươi năm.Bạn nhân nghĩa nát cả đất trời,Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen (6), nơi nơi cạm đặt.Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.Nặng nề những nỗi phu phen,Tan tác cả nghề canh cửi.Độc ác thay, trúc (7) Nam Sơn không ghi hết tội,Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.Lẽ nào trời đất dung tha,Ai bảo thần nhân chịu được?

3. Ta đây:Núi Lam Sơn dấy nghĩa,Chốn hoang dã nương mình.Ngẫm thù lớn há đội trời chung,Căm giặc nước thề không cùng sống.Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời;Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.Quên ăn vì giận, sách lược thao (8) suy xét đã tinh;Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế (9) đắn đo càng kĩ.Những trằn trọc trong cơn mộng mị,Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi (10).Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,Chính lúc quân thù đương mạnh.

Lại ngặt vì:Tuấn kiệt như sao buổi sớm,Nhân tài như lá mùa thu.Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,Nơi duy ác (11) hiếm người bàn bạc.Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông (12);Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chăm còn dành phía tả (13

Thế mà:Trông người người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi,Tự ta ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.Phần thì giận hung đồ ngang dọc,Phần thì lo vận nước khó khăn.Khi Linh Sơn (14) lương hết mấy tuần,Khi Khôi Huyện (15) quân không một đội.Trời thử lòng trao cho mệnh lớn,Ta gắng chí khắc phục gian nan.Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc (16) ngọn cờ phấp phới;Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông (17) chén rượu ngọt ngào.Thế trận xuất kì, lấy yếu chống mạnh;Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,Lấy chí nhân để thay cường bạo.Trận Bồ Đằng (18) sấm vang chớp giật,Miền Trà Lân (19) trúc chẻ tro bay (20).Sĩ khí đã hăng,Quân thanh càng mạnh (21).Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,Lí An, Phương Chính (22) nín thở cầu thoát thân.Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh (23) quân ta chiếm lại;Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô (24) đất cũ thu về.Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm;Tốt Động (25) thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.Phúc tâm quân giặc, Trần Hiệp đã phải bêu đầu;Mọt gian kẻ thù, Lí Lượng cũng đành bỏ mạng.Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy;Mã Anh (26) cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng.Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt;Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt, tâm công (27).Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đã thay lòng đổi dạ;Ngờ đâu vẫn đương mưu tính, lại còn chuốc tội gây oan.Giữ ý kiến một người, gieo họa cho bao nhiêu kẻ khác;Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:Thằng nhãi con Tuyên Đức (28), động binh không ngừng;Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng (29), đem dầu chữa cháy.Đinh Mùi tháng chín Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn tiến lại;Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong;Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.Ngày mười tám, trận Chi Lăng (30), Liễu Thăng thất thế,Ngày hai mươi, trận Mã Yên (31), Liễu Thăng cụt đầu,Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong,Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn.Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá,Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau.Lại thêm quân bốn mặt vây thành,Hẹn đến giữa tháng 10 diệt giặc.Sĩ tốt kén người hùng hổ,Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh.Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,Voi uống nước, nước sông phải cạn.Đánh một trận, sạch không kình ngạc,Đánh hai trận (32), tan tác chim muông.Nổi gió to trút sạch lá khô,Thông tổ kiến phá toang đê vỡ.Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.Lạng Giang (33), Lạng Sơn, thây chất đầy đường;Xương Giang, Bình Than (34), máu trôi đỏ nước.Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi,Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ.Bị ta chẹn ở Lê Hoa (35), quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật;Thua quân ta ở Cần Trạm (36), quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.Suối Lãnh Câu (37) máu chảy trôi chày (38), nước sông nghẹn ngào tiếng khóc;Thành Đan Xá thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp;Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng.Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;Thần vũ chẳng giết hại (39), thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc;Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.Họ đã tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng;Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.Chẳng những mưu kế kì diệu,Cũng là chưa thấy xưa nay.

4. Xã tắc từ đây vững bền,Giang sơn từ đây đổi mới.Kiền khôn bĩ rồi lại thái (40),Nhật nguyệt hối rồi lại minh (41),Muôn thuở nền thái bình vững chắc,Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy.Than ôi!Một cỗ nhung y (42) chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm;Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân (43) khắp chốn.Xa gần bá cáoAi nấy đều hay.

Theo bản dịch của BÙI KÍ (44), BÙI VĂN NGUYÊN chỉnh lí(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II – Văn học thế kỉ X – thế kỉ XVII, Sđd.Có tham khảo một số bản dịch khác.)

Dưới đây là phần Hướng dẫn Soạn bài Đại cáo bình Ngô (tiếp theo) sgk Ngữ văn 10 tập 2 đầy đủ và ngắn gọn nhất. Nội dung chi tiết câu trả lời từng câu hỏi các bạn xem dưới đây:

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Nội dung chính:

Đạo cáo bình Ngô tố cáo tội ác kẻ thù xâm lược, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập, một “áng thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta.

1. Câu 1 trang 22 Ngữ văn 10 tập 2

Bài Đại cáo bình Ngô gồm 4 đoạn. Hãy tóm lược nội dung của từng đoạn. Nội dung của từng đoạn hướng vào chủ đề chung của bài cáo là nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng độc lập dân tộc như thế nào?

Trả lời:

– Bố cục: 4 phần

+ Phần 1: Nêu luận đề chính nghĩa.

+ Phần 2: Vạch rõ tội ác tày trời của giặc Minh.

+ Phần 3: Kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa.

+ Phần 4: Tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa.

– Cả bốn phần đều hướng vào chủ đề chung của bài cáo là nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng độc lập dân tộc (phần 1 nêu cơ sở chân lí, phần 2 và 3 chứng minh chân lí bằng thực tiễn, phần 4 khẳng định chân lí).

2. Câu 2 trang 22 Ngữ văn 10 tập 2

Tìm hiểu đoạn mở đầu (“Từng nghe… chứng cứ còn ghi”):

a) Có những chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo?

b) Vì sao đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập?

c) Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc? (Lưu ý cách dùng từ, sử dụng nghệ thuật so sánh, câu văn biền ngẫu sóng đôi, cân xứng, cách nêu dẫn chứng từ thực tiễn,…)

Trả lời:

a) Việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo dựa trên hai chân lí sau:

– Chân lí về tư tưởng nhân nghĩa.

– Chân lí thực tiễn về nền độc lập, chủ quyền của nước Việt ta trên tất cả các phương diện: văn hiến, chủ quyền, phong tục, lịch sử, nhân tài.

b) Đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập vì:

– Tuyên ngôn độc lập là lời tuyên bố dõng dạc, đường hoàng về nền độc lập, chủ quyền của một quốc gia, thường ra đời ngay sau khi giành lại độc lập từ tay ngoại bang.

– Đoạn mở đầu của “Đại cáo bình Ngô”: cũng ra đời ngay sau khi giành lại độc lập từ tay quân Minh, cũng là lời tuyên bố đanh thép, hùng hồn về nền độc lập chủ quyền của nước Đại Việt ta, chứng minh nền độc lập ấy trên mọi phương diện thực tiễn một cách thuyết phục.

c) Đoạn mở đầu thể hiện niềm tự hào dân tộc:

– Các từ ngữ: từ trước, đã lâu, vốn xưng, đã chia, cũng khác khẳng định sự tồn tại hiển nhiên, lâu đời, vốn có của một nước Đại Việt độc lập, tự chủ.

– Giọng điệu: trang trọng, hào hùng, đanh thép.

– Nghệ thuật so sánh, câu văn biền ngẫu sánh đôi: Từ Triệu, Đinh, Lí…/Cùng Hán, Đường,…một phương cho thấy vị thế bình đẳng, ngang bằng giữa hai nền lịch sử, hai nền độc lập của Đại Việt và Trung Hoa.

– Các dẫn chứng đưa ra: văn hiến, phong tục, lịch sử, chủ quyền, nhân tài đều mang tính thực tế, thuyết phục.

3. Câu 3 trang 22 Ngữ văn 10 tập 2

Tìm hiểu đoạn 2 (“Vừa rồi… Ai bảo thần nhân chịu được”):

a) Tác giả đã tố cáo những âm mưu, nhưng hành động tội ác nào của giặc Minh? Âm mưu nào là thâm độc nhất, tội ác nào là man rợ nhất?

b) Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc? (Lưu ý những câu văn giàu hình tượng; giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc.)

Trả lời:

a) Tác giả tố cáo tội ác của giặc Minh

– Âm mưu xâm lược quỷ quyệt, giả nhân giả nghĩa để mượn gió bẻ măng vào cướp nước ta (Nhân họ Hồ chính sự phiền hà…thừa cơ gây họa).

– Tội ác cai trị tàn bạo, bóc lột xương tủy nhân dân: tàn sát người vô tội (Nướng dân đen…hầm tai vạ), dối trá, gây oán thù (Dối trời lừa dân…hai mươi năm), bóc lột dân chúng (thuế khóa, phu phen, vơ vét tài nguyên), hủy hoại môi trường sống, hủy hoại nghề truyền thống…

⇒ Tội ác cướp nước tàn sát nhân dân là thâm độc và man rợ nhất.

b) Nghệ thuật của đoạn cáo trạng:

– Giọng điệu: khi đau đớn, khi sục sôi căm hờn, khi đanh thép hùng hồn.

– Câu văn giàu cảm xúc, giàu tính hình tượng, gợi cảm.

– Kết hợp nhiều biện pháp: liệt kê, câu hỏi tu từ, nói quá, đối lập.

4. Câu 4 trang 23 Ngữ văn 10 tập 2

Tìm hiểu đoạn 3 (“Ta đây… Cũng là chưa thấy xưa nay”):

a) Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế nào? (Có những khó khăn gian khổ gì? Người anh hùng Lê Lợi tiêu biểu cho cuộc khởi nghĩa có ý chí, quyết tâm như thế nào? Sức mạnh nào giúp quân ta chiến thắng?)

b) Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

– Cho biết có những trận đánh nào, mỗi trận có đặc điểm gì nổi bật?

– Phân tích những biện pháp nghệ thuật miêu tả thế chiến thắng của ta và sự thất bại của giặc.

– Phân tích tính chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu câu văn.

Trả lời:

a) Giai đoạn đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

– Gặp nhiều khó khăn:

+ Tương quan lực lượng bất lợi, quân ta còn mỏng, giặc Minh hùng mạnh, xảo trá.

+ Quân ta thiếu thốn trăm bề: thiếu quân, thiếu nhân tài, thiếu lương thảo

– Chủ tướng Lê Lợi tiêu biểu cho tinh thần của cuộc khởi nghĩa:

+ Tấm lòng vì dân vì nước, căm thù giặc sục sôi.

+ Nung nấu binh thư, nghiền ngẫm sách lược tìm cách đánh đuổi giặc thù.

+ Ý chí phi thường, nhẫn nại vượt mọi khó khăn gian khổ để thực hiện chí lớn.

+ Lí tưởng, hoài bão dấy nghĩa lớn lao, nêu cao tinh thần đoàn kết chủ tướng, nhân dân.

– Sức mạnh giúp quân ta chiến thắng: hoài bão đánh đuổi giặc xâm lược, tư tưởng nhân nghĩa (lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo), tinh thần đoàn kết, chiến lược quân sự linh hoạt (chiến tranh du kích), tinh thần nhẫn nại khắc phục gian nan, nhân tài phò tá.

b) Giai đoạn phản công thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn:

– Liệt kê hàng loạt trận đánh: khí thế hào hùng, khung cảnh chiến trường ác liệt, chiến lược quân sự mềm dẻo, linh hoạt, sắc bén của ta.

– Biện pháp nghệ thuật miêu tả chiến thắng của ta và thất bại của địch:

+ Giọng văn hào hùng, khí thế;

+ Biện pháp tương phản đối lập: sự hèn nhát, thảm hại của kẻ thù >

5. Câu 5 trang 23 Ngữ văn 10 tập 2

Tìm hiểu đoạn kết (“Xã tắc từ nay vững bền… Ai nấy đều hay”):

– Giọng văn ở đoạn này vó gì khác với những đoạn trên? Do đâu có sự khác nhau đó?

– Trong lời tuyên bố nền độc lập dân tộc đã được lập lại, Đại cáo bình Ngô đồng thời nêu lên bài học lịch sử. Theo anh (chị), có những bài học lịch sử nào và ý nghĩa của bài học lịch sử đó đối với chúng ta ngày nay như thế nào?

Trả lời:

– Giọng văn: trịnh trọng, trang nghiêm, chậm rãi tổng kết cuộc khởi nghĩa, khẳng định chân lí và tuyên bố nền độc lập.

– Những bài học lịch sử còn có ý nghĩa lâu dài trong sự nghiệp giữ nước từ xưa đến nay:

+ Vượt qua thăng trầm lịch sử càng khẳng định nền độc lập vững chắc của dân tộc.

+ Sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại làm nên chiến thắng.

6. Câu 6* trang 23 Ngữ văn 10 tập 2

Rút ra những giá trị chung về mặt nội dung và nghệ thuật của Đại cáo bình Ngô, đồng thời phân tích những giá trị đó.

a) Đại cáo bình Ngô được coi là bản tuyên ngôn độc lập, tác phẩm có mang ý nghĩa tuyên ngôn về quyền sống của con người hay không? Hãy lí giải.

b) Đại cáo bình Ngô có sự kết hợp hài hòa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương, anh (chị) hãy phân tích để làm sáng tỏ đặc điểm này về các mặt: kết cấu, lập luận, nghệ thuật sử dụng từ ngữ, xây dựng hình tượng, nghệ thuật sử dụng câu văn, nhịp điệu.

Trả lời:

– Nội dung: Đại cáo bình Ngô là bản tuyên ngôn độc lập, có ý nghĩa tuyên ngôn về quyền sống của con người: nêu chân lí độc lập, tư tưởng nhân nghĩa, tố cáo tội ác của giặc, tái hiện quá trình kháng chiến oanh liệt của ta và tuyên bố nền độc lập.

– Nghệ thuật: Áng thiên cổ hùng văn kết hợp chất chính luận sắc bén và chất trữ tình; mang đậm cảm hứng anh hùng ca.

LUYỆN TẬP

1. Câu 1 trang 23 Ngữ văn 10 tập 2

Lập sơ đồ kết cấu của Đại cáo bình Ngô và phân tích tác dụng của nghệ thuật kết cấu đó.

Trả lời:

Sơ đồ kết cấu của Đại cáo bình Ngô:

*

Phân tích tác dụng của nghệ thuật kết cấu:

– Kết cấu của Đại cáo bình Ngô là điển hình cho thể văn chính luận.

– Tiền đề chính nghĩa có tính chân lí là cơ sở cho lập luận.

– Tiền đề chính nghĩa mới nêu ra được soi sáng trong thực tiễn.

– Chân lí được rút ra trên cơ sở tổng kết các tiền đề và thực tiễn.

⇒ Kết cấu chặt chẽ, sắc bén, thuyết phục và cuốn hút người nghe.

Xem thêm: Este Tính Chất Vật Lý Este, Bài Tập Về Este, Khái Niệm, Tính Chất Vật Lí, Ứng Dụng Của Este

2. Câu 2 trang 23 Ngữ văn 10 tập 2

Học thuộc đoạn mở đầu bài Đại cáo bình Ngô.

CÁC BÀI VĂN HAY

Bài trước:

Bài tiếp theo:

Trên đây là phần Hướng dẫn Soạn bài Đại cáo bình Ngô (tiếp theo) sgk Ngữ văn 10 tập 2 đầy đủ và ngắn gọn nhất. Chúc các em làm bài Ngữ văn thật tốt!