PHÓNG XẠPHẦN I. PHÓNG XẠ, TIA PHÓNG XẠ VÀ BẢN CHẤT1.Khái niệm về phóng xạ:a. Khái niệm:- Phóng xạ là hiện tượng một số hạt nhân nguyên tử không bền tự biến đổi và phát ra các bức xạ hạt nhân (thường được gọi là các tia phóng xạ). Các nguyên tử có tính phóng xạ gọi là các đồng vị phóng xạ, còn các nguyên tử không phóng xạ gọi là các đồng vị bền. Các nguyên tố hóa học chỉ gồm các đồng vị phóng xạ (không có đồng vị bền) gọi là nguyên tố phóng xạ. các tia phóng xạ có từ tự nhiên có thể bị chặn bởi các tầng khí quyển của trái đất.

Bạn đang xem: Các tia phóng xạ

- Tia phóng xạ theo nghĩa gốc là các dòng hạt chuyển động nhanh chóng từ các chất phóng xạ. Các hạt phóng ra có thể chuyển động thành các dòng định hướng.

- Tia phóng xạ có thể là chùm các hạt mang điện dương như hạt anpha, hạt proton; mang điện âm như chùm electron (phóng xạ beta); không mang điện như hạt nơtron, tia gamma (có bản chất giống như ánh sáng nhưng năng lượng lớn hơn nhiều). Sự tự biến đổi như vậy của hạt nhân nguyên tử, thường được gọi là sự phân rã phóng xạ hay phân rã hạt nhân.

*
b. Các nguồn tia phóng xạ:Trong tự nhiên, tia phóng xạ được chia làm hai loại:-Tia phóng xạ có bản chất là hạt như các hạt beta β (electron mang điện âm), alpha α (nhân helium mang điện dượng)…-Tia phóng xạ có bản chất là sóng điện từ có bước sóng cực ngắn (λ*Một số tia phóng xạ trong tự nhiên: Mỗi người trung bình trong một năm nhận tia phóng xạ tự nhiên:khoảng 1,1mSv ( 1, 3mSv nhận từ Radon trong không khí thì con số này trở thành 2,4mSv). Từ vũ trụ: khoảng 0, 38mSv .Từ đất :khoảng 0, 46mSv từ đất.Thông qua thực phẩm : khoảng 0.24mSv .Dù phải nhận một lượng tia phóng xạ tự nhiên như vậy nhưng sinh vật vẫn sống bình thường.Mức độ của tia phóng xạ tự nhiên phụ thuộc khu vực.Ở Trung Quốc,Ấn Độ khoảng 10mSv một năm. Vậy thì phải chăng những người sống ở khu vực có mức độ phóng xạ tự nhiên cao như thế sẽ bị ung thư? Và phải chăng là tuổi thọ trung bình sẽ ngắn? Kết quả những cuộc điều tra từ trước tới nay cho thấy những hiện tượng như thế không hề xuất hiện.Mức độ gấp 10 lần của phông phóng xạ tự nhiên trung bình cũng không có ảnh hưởng xấu nào đến sức khoẻ con người. 7. Các hoạt động chẩn đoán y tế gây nhiễm phóng xạ:Kiểm tra dạ dày bằng chụp tia X sẽ nhận 0,6mSv/lần, kiểm tra chụp tia X cắt lớp vùng ngực sẽ nhận 6,9mSv/lần, du lịch đi bằng máy bay khứ hồi New York - Tokyo sẽ nhận 0,19mSv
*
2.Cơ chế tác dụng sinh vật của bức xạ ion hóa:
Giai đoạn hóa lý: Giai đoạn này có thời gian tồn tại rất ngắn, từ 10-16 đến 10-6 giây. Trong giai đoạn này các phân tử sinh học chịu sự tác dụng trực tiếp hoặc tác dụng gián tiếp của tia phóng xạ. Thuyết tác dụng trực tiếp cho rằng đối tượng trực tiếp bị chiếu xạ sẽ trực tiếp hấp thụ năng lượng của tia và dẫn đến tử vong. Thuyết tác dụng gián tiếp lại cho rằng đối tượng bị chiếu xạ không trực tiếp hấp thụ năng lượng của tia mà chúng tương tác với các sản phẩm của quá trình phân ly phóng xạ nước dẫn đến tổn thương hoặc tử vong. Đối với những thí nghiệm invitro thì quan niệm trên dễ phân biệt, còn với thí nghiệm invivo, các nhà nghiên cứu lại quy ước: khi bị chiếu xạ nếu là tác dụng trực tiếp thì các phân tử hữu cơ sẽ trực tiếp hấp thụ năng lượng của tia và bị tổn thương cấu trúc nên dẫn đến tổn thương chức năng. Giai đoạn sinh học: Giai đoạn này thường kéo dài từ vài ngày đến hàng chục năm sau khi

bị chiếu xạ. Trong giai đoạn này những tổn thương hóa sinh không hồi phục được sẽ kéo theo những tổn thương chuyển hóa, dẫn đến những tổn thương hình thái và chức năng.

Cơ chế tác dụng trực tiếp:
Theo cơ ché này, năng lượng của các bức xạ trực tiếp chuyển giao cho

các phân tử cấu tạo nên tổ chức sinh học mà chủ yếu là các phân tử hữu cơ và gây nên các quá trình kích thích và ion hóa các nguyên tử cấu tạo nên các phân tử hữu cơ này. Sau đó, giữa các phân tử mới tạo thành sau khi bị kích thích hoặc ion hóa xảy ra liên tiếp các phản ứng hóa học. Chỉ sau khoảng phần ngàn mili giây, các phân tử hữu cơ quan trọng đã bị tổn thương gây nên các tác dụng sinh học tiếp theo như tổn thương chức năng hoạt động, gây đột biến gen, đột biếnnhieemx sắc thể, hủy diệt tế bào…

Sơ đồ tóm tắt:

-->AB  AB* AB + hµ

--> AB  AB*A* + B’ hoặc A’ + B*

Ở trạng thái kích thích, phân tử AB* dễ kết hợp với các phân tử khác tạo ra phản ứng hóa học mới hoặc chuyển giao năng lượng đã tiếp nhận được (hµ) cho phân tử khác để trở về trạng thái ổn định ban đầu (AB).

Cũng có khi phân tử AB* bị phân ly thành các phân tử nhỏ hơn và cũng ở trạng thái kích thích (A*, B*) dễ gây ra các phản ứng hóa học mới và các phân tử mới với những động năng nhất định (A’, B’) di chuyển trong môi trường.

Các phân tử bị ion hóa theo sơ đồ sau:

AB (AB)++ e

*
*

A+, B’ hoặc B+, A’

A-, B’ AB + e

B-, A’

Năng lượng tia (-->) có thể ion hóa các phân tử hữu cơ tạo ra các ion dương hoặc các ion âm (AB+, AB-). Các ion này rất dễ kết hợp với nhau hoặc tự phân ly thành các ion (A+, B+, A-, B-) và các phân tử nhỏ hơn với những động năng nhất định (A’, B’). Các sản phẩm mới này dễ tạo ra các phản ứng hóa học với các phân tử hữu cơ khác trong tổ chức sinh học. Vì vậy, các tổn thương trước hết xảy ra ở những phân tử bị kích thích và có các phản ứng hóa học, sau đó mới lan truyền ra các phân tử khác ở xung quanh. Cơ chế tác dụng gián tiếp:
Cơ chế tác dụng gián tiếp của các bức xạ ion hóa dựa trên vai trò trung gian của các phân tử nước trong tổ chức sinh hoạt.

Bức xạ ion hóa tác dụng trên các phân tử nước, gây nên những biến đổi ở đó tạo ra các sản phẩm hóa học mới là các ion dương hoặc âm (H2O-, H2O+, H+, OH-) và các phân tử ở trạng thái kích thích (H2O*, H*, OH*, HO2*…) và các sản phẩm mới này sẽ gây nên các phản ứng hóa học với các phân tử hữu cơ của tổ chức sinh học và làm biến đổi chúng. Như vậy năng lượng của chùm tia đã tác dụng lên các phân tử hữu cơ, gián tiếp thông qua các phân tử nước có trong tổ chức sinh học.

Đầu tiên các phân tử nước bị kích thích: H+ --> H2O  H2O*

OH-

Sau đó là quá trình ion hóa phân tử nước: + Bức xạ đánh bật điện tử của phân tử nước và biến nó thành ion dương (H2O)+.

--> H2O  (H2O)+ + e

H

*
*
+ OH*

+ Hoặc phân tử nước nhận thêm một điện tử để trở thành ion âm (H2O)-.

*
OH-
*
H2O + e  (H2O)-

H*Các phân tử ở trạng thái kích thích H*, OH* rất dễ kết hợp với nhau tạo ra các sản phẩm hóa học mới:

H* + H*  H2*

OH* + H*  H2O*

OH* + OH*  H2O­2

H2O­2 là chất oxi hóa mạnh và là chất độc đối với các phân tử hữu cơ. Thực tế, lượng H2O­2 sinh ra rất nhiều, nhất là khi hàm lượng oxy trong môi trường càng nhiều.

H2O­* + O2  OH* + H2O*

H* + O2  HO2

HO2 + HO2  H2O­2 + O2

Ngoài ra, các nguyên, phân ở trạng thái kích thích H*, OH* cũng dễ phản ứng với các phân tử hữu cớ (RH) gây nên những biến đổi tại đó và tạo ra thêm những phân tử H2O­2:

RH + H*  R* + H2­

RH + OH*  R* + H2O­2

Các gốc R* bị kích thích cũng dễ gây ra phản ứng hóa học mới làm cho số lượng các phân tử hữu cơ tăng lên rất nhiều:

R* + O2  RO2*

RO2 + RH  ROOH + R*

Các phản ứng dây chuyền này góp phần gây ra các tác dụng lan truyền ra xa, tác dụng kéo dài trên cá tổ chức sinh học sau khi chiếu xạ.

Cho nên có thể nhận thấy rằng, vì cơ chế gián tiếp diễn ra phức tạp hơn nên nếu xét trong cùng một khoảng thời gian nhất định, những tổ chức sinh học có hàm lượng cao sẽ có mức độ tổn thương do bức xạ ion hóa thấp hơn so với những tổ chức có hàm lượng nước thấp. Tuy nhiên, nếu xét về lâu dài, cơ chế tác dụng gián tiếp sẽ có tác dụng kéo dài, do đó những tổ chức có hàm lượng nước cao sẽ bị tổn thương ở mức độ nặng hơn. Để phân biệt cơ chế tác dụng trực tiếp và gián tiếp của tia phóng xạ, người ta sử dụng các hiệu ứng sau: Hiệu ứng tích lũyHiệu ứng pha loãngHiệu ứng oxyHiệu ứng bảo vệ phóng xạ 3. Tác dụng của tia phóng xạ lên phân tử sinh học:a. Tác dụng của tia phóng xạ lên nước:

Nước chiếm tỉ lệ cao trong cơ thể sống (70%). Dưới tác dụng của các bức xạ ion hóa phân tử nước bị ion hóa:

H2O + hf  H2O+ + e-

H2O + e-  H2O-

H2O+  H* + OH*

H2O-  H+ + OH-

Hoặc e- bị đánh bậc ra tác dụng với nước ban đầu

H2O + hv  H2O+ + e-  H2O+  H* + OH*

Như vậy dưới tác dụng của tia phóng xạ, trong nước hình thành số lượng lớn góc tự do H* và OH*

Gốc H* có thời gian sống ngắn (10-6 – 10-5s), trong thời gian này chúng tác dụng với nhau:

H* + H*  H2

H* + OH*  H2O

H* tác dụng với phân tử hóa tan trong nuxocs giải phóng e-

Khi có oxy: H* + O2  HO­2*

Sau khi hình thành các gốc tự do sẽ tham gia phản ứng hóa học với các chất khác trong hệ.

Gốc OH* tham gia vào các phản ứng sau:

Fe++ + OH*  Fe+++ + OH-

Tách phân tử H ra khỏi chất hữu cơ:

CH3-CH2OH + OH*  CH3-CH*OH + H2O

Tạo liên kết với các liên kết đôi

Khử các chất oxy hóa mạnh

Gốc H* và OH* còn có khả năng gây phản ứng trùng hợp hoặc tách nguyên tử Hydro ra khỏi chất hữu cơ. Do đó, tia phóng xạ gián tiếp làm rối loạn các phản ứng trong cơ thể.

b. Tác dụng của bức xạ ion hóa lên cơ thể sống:b1. Tổn thương ở mức độ phân tử: Gây hiện tượng đứt mạch dẫn tới làm giảm trọng lượng của phân tử hoặc khâu mạch sẽ làm tăng trọng lượng phân tử.

- Làm thay đổi tính chất hóa lý dung dịch bị chiếu xạ như thay đổi độ nhớt, thay đổi hệ số lắng…

- Gây tổn thương cấu trúc hoặc phá hủy cấu trúc phân tử.

- Làm thay đổi hoặc phá hủy chức năng sinh học của phân tử.

Đối với các loại axit nucleic như DNA, RNA có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tích lũy, truyền thông tin và sinh tổng hợp. Khi DNA bị chiếu xạ có thể xảy ra những khả năng sau: Hai chuỗi xoắn kép bị đứt. - Các phân tử DNA kiên kết với nhau, hiệu ứng khâu dính các chuỗi polynucleotit với nhau.

- Làm biến đổi các gốc bazơ nitơ của DNA, cac bazơ này có thể được giải phóng hoặc bị biến đổi.

- Xảy ra các phản ứng amin hóa giải phóng phân tử NH3, gốc PO4.

Kết quả của những biến đổi về cấu trúc và hóa học của các phân tử axit nucleic đều làm nó mất chức năng sinh học.

Với các phân tử protein, tác dụng của tia phóng xạ lại càng phức tạp, bao gồm các loại biến đổi như sau:

- Phá vỡ liên kết peptit trong mạch chính hoặc phá hủy cầu disunfit, dẫn tới làm giảm trọng lượng phân tử.

- Xảy ra hiện tượng khâu mạch làm kết dính các phân tử protein với nhau làm tăng độ nhớt dung dịch.

- Phá hủy cấu trúc phân tử làm mất chức năng sinh học.

Từ những biến đổi trên đã làm thay đổi tính chất hóa lý của các phân tử protein dẫn đễn thay đổi hoạt tính sinh học của nó. Khi chiếu xạ, số phân tử bị Phá hủy chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số các phân tử có trong tế bào nhưng cũng đuur gấy ra đột biến di truyền, làm tổn thương hình thái và chức năng, nếu nặng có thể giết chết tế bào.b2. Tổn thương ở mức độ tế bào:

*Sự tổn thương tế bào bởi bức xạ, chủ yếu do các hiệu ứng trên DNA và có thể gồm 3 hiệu ứng chính sau:

- Tế bào có thể chết

- Chất lêiuj di truyền tế bào thay đổi và được truyền cho các tế bào mới.

- Xảy ra trong tế bào dẫn tới phân chia dị thường.

Mỗi loại tế bào đều có chức năng nhất định. Sữ mất chức năng của tế bào gắn liền với những phân tử nào đó. Người ta gọi các phân tử quyết định chức năng và đời sống của tế bào và “phân tử ô chủ chốt”. Nếu các phân tử đó bị thương, chức năng của tế bào bị rối loạn hoặc tế bào bị chết. Các phân tử chủ chốt nằm ở tâm nhạy của tế bào, nếu tâm nhạy bị hư hạithif tế bào chết.

*Tác dụng phóng xạ vào tế bào có nhiều mức độ:

- Phóng xạ không đủ sức làm hư hại tế bào.

- Tế bào bị hư hại lúc đầu nhưng sau đó có thể tự sửa chữa được.

- Tế bào bị phóng xạ, tự sửa chữa được nhưng không hoạt động bình thường như trước.

- Phóng xạ nặng làm chết tế bào.

Nhân là phần dex bị tổn thương nhất của tế bào. Tế bào chất ít bị tổn thương hơn nếu chiếu xạ nguyên sinh mà không có mặt của nhân. Màng tế bào rất nhạy cảm với phóng xạ, tủy theo liều lượng mà có thể làm thya đổi tính thấm chọn lọc của màng, làm rối loạn cân bằng ion trong và ngoài màng.

b3. Tổn thương ở các mô:

Sự hư hại của nhiều tế bào có thể dẫn đến tổn thương ở mô. Tổn thương mô do bức xạ bị ảnh hưởng rất nhiều yếu tố mà trước hết là do độ nhạy cảm phóng xạ khác nhau:

- Rất nhạy cảm: tủy xương, tổ chức lympho, tổ chức sinh dục, niêm mạc ruột.

- Nhạy cảm vừa: da và niêm mạc của các tạng.

- Nhạy cảm trung bình: mô liên kết, mao mạch, sụn xương.

- Nhạy cảm thấp: xương, các phủ tạng, tuyến nội tiết.

- Rất ít nhạy cảm: cơ bắp, các nơron thần kinh.b4. Tổn thương toàn thân:

Cơ thể con người là đối tượng quan trọng nhất khi nghiên cứu các hiệu ứng sinh học của bức xạ. Có 2 cách chiếu xạ lên cơ thể người là chiếu xạ ngoài từ bên ngoài cơ thể và chiếu xạ trong từ bên trong cơ thể.Cơ thể con người dựa trên một bộ xương. Bao phủ bên ngoài là lớp da có nhiệm vụ bảo vệ, trao đổi nhiệt và cân bằng thể dịch. Bên trong là các tạng có chức năng như hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn, tiết niệu,… Về phương diện an toàn bức xạ, các cơ quan đó cũng là phương tiện, nhờ đó các nhân phóng xạ xâm nhập vào cơ thể, vận chuyển bên trong đó và cuối cùng là bị thải ra ngoài.

Hệ tuần hoàn Các chất phóng xạ có thể xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hở hoặc qua đường tiêu hóa, đường hô hấp và da tới hệ tuần hoàn và đi khắp nơi trong cơ thể. Mức độ tác động của các chất phóng xạ lên mô, cơ quan phụ thuộc vào tính chất hóa học của nhân phóng xạ.
*
Hệ hô hấp: V
*
ề mặt an toàn bức xạ, hệ hô hấp là đường xâm nhập vào cơ thể của các chất phóng xạ thể khí, mà đặc biệt là bụi phóng xạ. Các hạt bụi có kích thước lớn hơn 10µm thường bị ngăn cản ở phần ngoài đường hô hấp nhờ các lông mũi dày đặt. Những hạt bụi nhỏ hơn có thể xâm nhập sâu hơn, nằm lại trong hệ thống hô hấp và chỉ bị đẩy ra nhờ chuyển động quét của các mao lót thành phế quản (kết hợp hành động ho) hoặc bằng đường hóa học (bị hòa tan) và sau đó là hành động nuốt. Như vậy vật chất xâm nhập vào đường hô hấp sẽ đến hệ thống tiêu hóa. Những hạt bụi hòa tan được ở phế nang sẽ xâm nhập vào máu và đi khắp cơ thể. Những hạt bụi không hòa tan sẽ bị các tế bào lympho trong phôit “ăn” và tiêu diệt. H
*
ệ tiêu hóa: Hệ thống tiêu hóa cũng là một trong các cửa ngõ chính bị các chất phóng xạ xâm nhập vào cơ thê cùng với trhuwcj phẩm và nước uống. nếu chất phóng xạ hòa tan được thì chúng theo hệ tuàn hoàn đi khắp cơ thể. Nếu không hòa tan được, chúng sẽ bị đầy ra ngoài cùng với phân. Da: D
*
a có chức năng bảo vệ cơ thể khỏi các chất có hại như vi trùng và hóa chất, bài tiết các chất thải của cơ thể, sấy ẩm hoặc làm lạnh cơ thể và điều chỉnh sự lưu thông máu. Khi lớp da bị tổn thuuwowng thì đây là cửa ngõ chất phóng xạ có thể xuất nhập vào các bộ phận khác trong cơ thể. Hệ tiết niệu: H
*
ệ thống tiết niệu là con đường bài tiết chủ yếu các địch thể dư thừa bao gồm cả các chất phóng xạ dạng hòa tan từ cơ thể ra ngoài. Nguồn nước thải từ đường tiết niệu là một trong các thành phần dùng để đánh giá lượng chất phóng xạ xâm nhập vào cơ thể. Vì vậy nguồn nước thải này là đối tượng cần được xử lý chứa một lượng lớn chất thải phóng xạ từ cơ thể ra. Hệ thống bạch huyết: Hệ thống bạch huyết thực ra là một bộ phận của hệ thống tuần hoàn, có chức năng vận chuyển nguyên vật liệu giữa các tế bào với hệ tuần hoàn. Nó còn giữ vai trò bảo vệ, ngăn chặn, tiêu diệt các vi trùng, dị vật và độc tố xâm nhập vào hệ thống tuần hoàn. Khi da bị tổn thương, chất phóng xạ sẽ xâm nhập qua hệ bạch huyết đến các vùng khác nhau của cơ thể. Các hệ thống khác. Một số ảnh hưởng của tia phóng xạ đối với sinh vật:
Hoạt độ phóng xạ là khả năng phát ra tia phóng xạ của nguồn phóng xạ .(Trong chương trình lớp 12 gọi là Độ phóng xạ) .Đơn vị của nó là Becquerel (viết tắt là Bq). Đơn vị lớn hơn là Curi (viết tắt là Ci; 1Ci=3,7. 10^10Bq). Đơn vị biểu thị ảnh hưởng của tia phóng xạ đối với con người là Sievert (Sv). Các đơn vị nhỏ hơn là mSv (1Sv=103mSv= 106mSv).Hoạt độ phóng xạ 1 Bq là khả năng của nguồn phóng xạ mà 1 hạt nhân nguyên tử biến đổi trong 1 giây sau đó sinh ra 1 tia phóng xạ. Còn muốn biết xem con người bị nhiễm phóng xạ đến mức độ nào thì quy đổi ra đơn vị mSv.Khi nhận một lượng tia phóng xạ trong thời gian ngắn thì cơ thể con người sẽ có những biểu hiện như sau: Mức 0,2Sv : không có biểu hiện bệnh lý gìMức 0,5Sv : giảm cầu lymph trong máu Mức 3Sv : làm rụng tóc Mức 5Sv : tỷ lệ tử vong là 50% Mức 10 Sv: tỷ lệ tử vong gần 100% Như vậy, mức độ nhiễm xạ của cơ thể con người (còn được gọi là liều chiếu) được đo bằng milisievert (mSv), tương tự đơn vị đo như lít, kg được quốc tế công nhận.Ngược lại dòng thời gian của lịch sử, sinh vật trên Trái đất tiến hóa được là nhờ có nước. Từ xa xưa, Trái đất không có oxy nhưng dưới biển có rất nhiều tảo sinh sôi. Sự quang hợp của tảo biển đã sinh ra oxy. Lượng oxy trong không khí ngày càng tăng lên và oxy ở tầng trên biến thành tầng ozon. Nhờ có tầng ozon này mà tia tử ngoại (có khả năng gây tổn thương cho sinh vật) từ vũ trụ chiếu xuống Trái đất bị hạn chế đi. Sinh vật đã có thể tiến từ biển lên đất liền và tiến hóa như ngày nay.Tia tử ngoại là sóng điện từ, về ý nghĩa rộng nó cũng được coi là tia phóng xạ. Một lượng tia tử ngoại phù hợp rất cần thiết cho cơ thể, nó tạo ra vitamin. Người dân nhiều nước rất thích tắm nắng. Nhưng nếu nhận một lượng lớn tia tử ngoại sẽ có khả năng bị ung thư da.Quay trở lại thời điểm sinh vật tiến hóa lên đất liền cách đây vài trăm triệu năm, khi đó lượng tia phóng xạ trên Trái đất lớn rất nhiều so với bây giờ. Có giả thuyết cho rằng, nhờ tia phóng xạ gây đột biến gen mà sinh vật có thể trở nên thích ứng với môi trường và tiến hóa được một cách nhanh chóng (ngược lại thì bị diệt vong). Nói khác đi, sinh vật nhờ lợi dụng một cách tài tình tia phóng xạ mà có được quá trình tiến hóa. Các triệu chứng của bệnh nhiễm xạ cấp tính(acute exposure) (trong 1 ngày)

Biểu hiện toàn thân của tổn thương do bức xạ được gọi là bệnh nhiễm xạ cấp hoặc mãn. Chiếu xạ ở mức độ cao và trong thời gian ngắn gọi là chiếu xạ cấp tính.

0– 0.25 Sv (0 – 250 mSv): không có

0.25 – 1 Sv (250 – 1000 mSv): Buổn nôn và không muốn ăn. Tủy sống hạch bạch huyết và lách bị tổn thương,.

1 – 3 Sv (1000 – 3000 mSv): Buổn nôn, không muốn ăn, nhiễm khuẩn.Tủy sống , hạch bạch huyết và lách bị tỗn thượng nhiều,khó hồi phục

3 – 6 Sv (3000 – 6000 mSv): Buổn nôn nhiểu, không muốn ăn, xuất huyết, nhiễm khuẩn, tiêu chảy, da tróc, vô sinh, chết nếu không chữa.

6 – 10 Sv (6000 – 10000 mSv): các triệu chúng trên kèm theo hệ thẩn kinh trung ượng bị tổn thượng, chờ chết

 

Trên 10 Sv (10000 mSv): Tàn phế và tử vong

4. Tương tác bức xạ ion hóa đối với vật chất.

Tương tác của bức xạ với vật chất có thể hoặc là khuếch tán hoặc hấp thu.. Nhưng cơ chế của sự hấp thu bức xạ đáng quan tâm hơn vì:

- khi bức xạ được hấp thu vào mô cơ thể nó sẽ gây tổn thượng

- sự hấp thu là nguyên lý dùng làm cơ sở trong việc dò đo bức xạ

- mức độ hấp thu là yếu tố chính để xác định các điểu kiện bảo vệ hữu hiệu chống bức xạ.

Sư truyển năng lượng từ bức xạ phóng thích sang cho vật chất xẩy ra theo hai cách chính là ion hóa và kích thích.Trong ion hóa, một electron được bứt ra khỏi nguyên tử làm cho phẩn nguyên tử còn lại có dương tính. Trong kích thích, năng lượng được cung cấp thêm cho nguyên tử để đưa nó từ trạng thái nển lên trạng thái kích thích.

Xem thêm: Phương Trình Điện Li Bacl2 Là Chất Điện Li Mạnh Hay Yếu, Phương Trình Điện Li Bacl2

a. Tương tác tia γ, tia X với vật chất:

Tia γ và tia X có bản chất vật lý giống nhau, chúng có bước sóng cực ngắn và E lớn, do tác động của chúng với vật chất giống nhau. Vì các tia X và γ không mang điện nên không ion-hóa trực tiếp vât chất như các hạt mang điện.Tuy nhiên các tia này có đủ năng lượng để tạo các hat mang điện thứ cấp làmion hóa vật chất. Tia gamma là một bức xạ điện từ tẩn số cao nên sức xuyên thấu vật chất của nó mạnh hơn các tia alpha vả beta nhiểu. Vì vậy khi bức xạ phóng xạ bắn tử nguổn bên ngoài vào cơ thể thì trong khi các tia alpha và beta chỉ gây tổn thượng khu trú (như phỏng da vì phóng xạ) tia gamma lại làm tổn thương khắp người tăng cao rủi ro ung thư. Khi xâm nhập vào trong cơ thể chất phóng xạ gamma gây nhiểu tỗn thương nhất khi năng lượng của tia gamma ỡ trong giải từ 3đến 10MeV.

Các loại tia này khi đi qua vật chất đều tác động như nhau. Mối liên quan giữa cường độ của tia trước khi xuyên qua vật chất I0 và sau khi đi qua vật chất I được mô tả qua công thức: